Thứ Hai, 17 tháng 11, 2008

Hoa hậu Ngô Phương Lan đến với nạn nhân chất độc da cam và trẻ em nghèo

23 giờ đêm nay (14/9), Hoa hậu Ngô Phương Lan sẽ rời Việt Nam bay sang Thụy Sĩ. Nhưng hôm qua, cô vẫn dành cả một ngày đi làm từ thiện tại xã Minh Phú, huyện Sóc Sơn và Viện Nhi T.Ư.

Hoa hậu Ngô Phương Lan và nhà thơ Dương Kỳ Anh trao quà cho nạn nhân chất độc da cam xã Minh Phú. Ảnh: Hồng Vĩnh
Hoa hậu không có vẻ gì mệt mỏi, dù cô vừa mới đi sẻ chia những khó khăn với bà con vùng lũ Hương Khê, Hà Tĩnh về.

Được mời ra trụ sở Ủy ban xã nhận quà của Hoa hậu Thế giới người Việt, các em Đỗ Thị Quỳnh, Lương Thị Thu Hà, Dương Thị Tịnh là con những gia đình khó khăn nhưng vẫn cố gắng học tập tốt và các anh Nguyễn Như Cương, Nguyễn Tiến Nguyên, Vũ Kim Kiên, Nguyễn Văn Đại là những nạn nhân bị nhiễm chất độc da cam đã có mặt từ rất sớm.

Hoa hậu Ngô Phương Lan xúc động chia sẻ với những đau đớn do chiến tranh để lại cho các anh và khó khăn của các em nhỏ. Cô mong rằng với món quà tuy nhỏ nhưng đó là tình cảm của Lan, phần nào làm vơi đi những khó khăn cho mọi người.

Cô đã trao 10 suất quà, mỗi suất 1 triệu đồng. Em Dương Thị Sáng, học lớp 2 do mẹ bận làm đồng nên đưa đến muộn cũng được Hoa hậu trao một suất quà và gửi một suất quà khác cho một nạn nhân bị nhiễm chất độc da cam không đến được.

Niềm vui đến bất ngờ, các em nhỏ quấn quít bên Hoa hậu Ngô Phương Lan không muốn rời. Đó là hình ảnh rất đẹp được các phóng viên truyền hình ghi lại.

Cùng đi với Hoa hậu Ngô Phương Lan có nhà thơ Dương Kỳ Anh, Tổng biên tập báo Tiền phong, anh cho biết xã Minh Phú là một xã nghèo của Hà Nội.

Báo Tiền phong từng xây nhà và trao sổ tiết kiệm tình nghĩa cho các gia đình chính sách ở đây cũng như trên cả nước trong suốt hơn 20 năm qua. Chuyến hoạt động từ thiện lần này của Hoa hậu cũng nằm trong chương trình đó.




Từ Sóc Sơn, đoàn đã đến Bệnh viện Nhi T.Ư, tại đây Hoa hậu được Ban giám đốc bệnh viện và tập thể y, bác sĩ đón tiếp thân tình. Giáo sư, Tiến sĩ Nguyễn Thanh Liêm, Giám đốc bệnh viện tặng hoa chúc mừng Hoa hậu Ngô Phương Lan và cám ơn báo Tiền phong đã làm cầu nối.

Thông qua Giáo sư Liêm, Hoa hậu Ngô Phương Lan trao tặng quĩ lọc máu và ghép tạng của bệnh viện 5 triệu đồng, để hỗ trợ cho các bệnh nhân cần ghép tủy, xương. Hoa hậu Ngô Phương Lan đã đến tận giường bệnh chia sẻ với các bệnh nhân khoa ghép tủy.

Đặt bó hoa tươi thắm bên giường bệnh của em Giàng Thị Xuân, người dân tộc Mông ở xã Chiềng Biêng, huyện Yên Châu, Sơn La. Hoa hậu động viên Xuân cố gắng vượt qua căn bệnh hiểm nghèo.

Mặc dù rất mệt vì bị bệnh suy tủy đang phải truyền để chờ ghép tủy nhưng thấy Hoa hậu ngồi bên, Xuân vẫn nở nụ cười tươi. Nghe tin có Hoa hậu đến thăm các bệnh nhân, người nhà và y bác sĩ ùa ra đứng chật cả hành lang để được nhìn rõ Hoa hậu.

Hoa hậu Ngô Phương Lan cho biết, sau khi đăng quang, cô đã trích ra gần 70 triệu đồng từ số tiền thưởng để đi làm từ thiện. Sang Thụy Sĩ lần này cô dự định sẽ vận động thêm bà con ở nước ngoài cũng như các tổ chức từ thiện quyên góp tiền, tiếp tục hỗ trợ cho những hoàn cảnh khó khăn trong nước.

Việt kiều ngày càng quan tâm đến vấn đề chất độc da cam

Theo bà Merle E.Ratner, thành viên sáng lập Chiến dịch cứu trợ và trách nhiệm với nạn nhân chất độc da cam/dioxin VN (VAORRC), cho biết, Việt kiều tại Mỹ đã có những quan tâm tích cực tới vụ kiện đòi công lý cho các nạn nhân da cam.


Bà Merle E.Ratner
Tiền phong phỏng vấn bà Merle nhân buổi làm việc mới đây của bà với Hội Nạn nhân chất độc da cam/dioxin Việt Nam (VAVA) ngày 2/1/2008.
Trong quá trình vận động dư luận, vấn đề hiện nay được bà lưu tâm nhất là gì?

Theo tôi, có một lĩnh vực chưa ai đề cập đến. Đó là việc tiếp xúc với giới Việt kiều, trong số họ cũng có các nạn nhân da cam. VAORRC đã có các cuộc tiếp xúc với giới Việt kiều và nhận thấy họ bắt đầu quan tâm đến hoạt động này, một số người đã nói đến tình trạng bệnh tật.

Thời gian tới chúng tôi sẽ tiến hành các cuộc khảo sát đối với Việt kiều xem tình hình cụ thể như thế nào. Trong ban vận động của chúng tôi cũng có những người là Việt kiều tham gia.

Trong nhóm Việt kiều, đối tượng hiện nay được quan tâm nhiều là Việt kiều trẻ. Mối quan tâm của họ đối với vấn đề chất độc da cam ngày càng tăng. Nhiều người đã thông qua VAORRC bày tỏ nguyện vọng muốn tìm hiểu về Việt Nam và muốn làm việc cho VAVA…

VAORRC cũng nhận được nhiều thư của Việt kiều, trong đó có những ông bố bà mẹ có con sứt môi và cho rằng bị ảnh hưởng bởi chất độc da cam. Họ tranh thủ hỏi về việc có thể giúp đỡ họ như thế nào. Tôi cho rằng Việt Nam có thể có dự án mời số Việt kiều bị tổn thương bởi chất độc da cam về Việt Nam chữa trị, chẳng hạn như tại BV Từ Dũ.

Về phía Mỹ, ai sẽ chịu trách nhiệm trong việc thành lập các khuôn khổ pháp lý về vấn đề bồi thường cho nạn nhân da cam Việt Nam?

Hai đoàn nạn nhân da cam Việt Nam vừa rồi sang Mỹ đều đã gặp các nghị sỹ quốc hội. Kết quả rất tốt. Các nghị sỹ đã có cam kết sẽ đưa ra khuôn khổ pháp lý về vấn đề này, họ sẽ viết các dự luật đưa ra quốc hội trình rồi thông qua. Muốn vậy, phải có các vận động hành lang (lobby).

Ở Mỹ có hai hình thức: Dùng tiền (như đóng góp tiền trong các kỳ bầu cử); gây áp lực bằng dư luận (các cử tri sẽ tiếp xúc với các nghị sỹ, qua các nghị sỹ sẽ đến được quốc hội). Ba tiểu bang đầu tiên chúng tôi phải tranh thủ sự ủng hộ để gây sức ép là Tiểu ban thư pháp, Tiểu bang Cựu chiến binh, Tiểu ban Châu Á Thái Bình Dương.

Khi đề cập đến các nạn nhân da cam, đại diện Chính phủ Mỹ tại Việt Nam phủ nhận định nghĩa nạn nhân da cam và nói sẽ trợ cấp cho những người này như những người khuyết tật vì cho rằng không có bằng chứng khoa học nào chứng tỏ đó là nạn nhân da cam.

Năm ngoái Quốc hội Mỹ đã thông qua 3 triệu USD để tẩy độc môi trường và trợ giúp người khuyết tật tại Việt Nam. Bà đánh giá như thế nào về vấn đề này?

Chính phủ Mỹ không bao giờ thừa nhận trách nhiệm, tất nhiên chúng tôi không bao giờ đồng tình với quan điểm đó. Thật là vô lý, vì hằng ngày họ vẫn cung cấp tiền bồi thường cho các cựu chiến binh Mỹ. Và khi làm như vậy họ cũng chẳng cần phải chứng minh gì về khoa học.

Một trong những tiêu chuẩn để được lĩnh số tiền đó là những người được hưởng phải có mặt ở nơi rải hóa chất và họ phải mắc 1 trong 15 bệnh do Viện Y học Mỹ quy định.

Chính phủ Mỹ có thể viện trợ người tàn tật, nhưng họ nhất thiết phài bồi thường cho những người tàn tật vì chất độc da cam vì họ đã đến Việt Nam để rải những chất đó. Hiện giờ họ cũng làm điều đó tại Iraq và nhiều nơi khác.

Đối với vấn đề 3 triệu USD, tôi nghĩ ở một góc độ nào đó nó cũng có ý nghĩa tích cực. Ít nhất Chính phủ Mỹ cũng thừa nhận có điểm nóng tại Việt Nam, và điểm nóng này có tác động đến các nạn nhân da cam.

Xin cảm ơn bà!

Nạn nhân da cam/dioxin Việt Nam tiếp tục kháng kiện


Chị Bùi Thị Bông (Hương Thủy, Thừa Thiên - Huế) cùng 2 em trai đang hàng ngày chịu nỗi đau dioxin. Một người suốt ngày ngồi một chỗ, nói nhảm và đòi chết. Một người đi được ba bốn bước thì mất nửa tiếng. Ảnh: VNN

- Hôm nay (25/2), Hội Nạn nhân chất độc da cam/dioxin Việt Nam (VAVA) ra tuyên bố cho biết các nạn nhân da cam/dioxin VN sẽ tiếp tục kháng kiện lên Tòa án tối cao Hoa Kỳ, kiện các công ty hóa chất Hoa Kỳ bồi thường cho những hậu quả, di chứng mà họ phải gánh chịu trong nhiều năm qua.



Trong tuyên bố, VAVA cho rằng Tòa án phúc thẩm lưu động số 2 Hoa Kỳ đã ra phán quyết “phi lý, thiên vị và không công bằng, không phù hợp với thực tiễn về hậu quả của chất độc da cam/dioxin đối với các nạn nhân Việt Nam” .

“Cần nhắc lại rằng, các công ty hóa chất Hoa Kỳ đã cung cấp sản phẩm độc hại cho quân đội Mỹ sử dụng trong chiến tranh Việt Nam, gây nên những hậu quả rất nghiêm trọng, kéo dài đối với con người và môi trường sinh thái Việt Nam".

"Các công ty hóa chất Hoa Kỳ đã nhận biết được tác hại của chất độc này từ trước khi họ bán sản phẩm cho chính phủ Hoa Kỳ để sử dụng tại Việt Nam. Vì chạy theo lợi nhuận tối đa, họ đã thay đổi quy trình công nghệ, làm tăng rất nhiều lần hàm lượng dioxin trong chất diệt cỏ", tuyên bố của VAVA nhấn mạnh.

Hội Nạn nhân chất độc da cam/dioxin VN cho rằng các công ty hóa chất Hoa Kỳ "đã cố tình che giấu sự thật, làm ngơ và trốn tránh trách nhiệm trước những tội ác mà họ gây ra không chỉ đối với các nạn nhân Việt Nam, mà còn cả với nạn nhân của nhiều nước có quân tham chiến ở Việt Nam".

VAVA đặt câu hỏi: “Trong khi Chính phủ Mỹ vẫn phải trợ cấp hàng tỷ USD mỗi năm cho các nạn nhân của họ, tại sao những người Việt Nam là nạn nhân trực tiếp của chất độc da cam/dioxin, đứng ra khởi kiện các công ty hóa chất Hoa Kỳ lại bị bác bỏ?”.

Khẳng định tiếp tục kháng kiện lên Tòa án tối cao Hoa Kỳ, VAVA nói: “Các nạn nhân chất độc da cam/dioxin Việt Nam không còn sự lựa chọn nào khác là tiếp tục đấu tranh đòi công lý”.

Hội và các nạn nhân tiếp tục vận động dư luận trong và ngoài nước, kể cả dư luận Mỹ, nhân dân và chính giới Mỹ ủng hộ các nạn nhân chất độc da cam/dioxin Việt Nam.

Những phóng viên tự do cũng tham gia vào Hội giúp đỡ những nạn nhân bị nhiễm chất độc màu da cam

Chiều 13/3, ông Larry Vetter (sinh năm 1942, quốc tịch Mỹ), nguyên là đại úy Mỹ tham gia chiến trường Việt Nam năm 1965-1969, hiện là phóng viên tự do.

Ông Larry Vetter. Ảnh: NLD

Ông cho biết tham gia Hội nhằm đóng góp vào hoạt động vận động, ủng hộ giúp đỡ nạn nhân bị nhiễm chất độc da cam do hậu quả của chiến tranh để lại. Bản thân Larry Vetter cũng bị di chứng nhiễm chất độc này.

Dịp trở lại Việt Nam, ông Larry Vetter đã thăm lại nơi từng tham chiến như Khe Sanh, tây Đà Nẵng, đến Côn Đảo để gặp gỡ cựu tù còn sống sót nhằm tìm hiểu cuộc sống quá khứ và hiện tại của họ.

Theo Hội nạn nhân chất độc da cam thành phố Đà Nẵng, đến nay đã có 7 người nước ngoài tự nguyện gia nhập Hội.

Chất độc da cam - câu chuyện vẫn còn tiếp diễn


Bà Tôn Nữ Thị Ninh là thành viên phía VN, nhóm Đối thoại Việt - Mỹ.


76,9 triệu lít thuốc diệt cỏ, trong đó chất da cam chiếm một lượng lớn mà quân đội Mỹ rải xuống VN để lại hậu quả nặng nề. Gần nửa thế kỷ sau hàng loạt hoạt động của các nhóm, tổ chức nhân đạo của cả hai phía Mỹ và VN vẫn đang tích cực diễn ra nhằm khắc phục hậu quả ấy.

Sự ra đời của nhóm Đối thoại Việt - Mỹ



Trong năm 2007, nhóm Đối thoại Việt - Mỹ về vấn đề chất độc màu da cam/đi-ô-xin đã ra đời với 10 thành viên là các nhà khoa học, nhà phân tích chính sách và các doanh nhân nổi bật của hai nước. Phía Việt Nam gồm có bà Tôn Nữ Thị Ninh, nguyên Phó Chủ nhiệm Uỷ ban Đối ngoại của Quốc hội; ông Bùi Thế Giang, Vụ trưởng Vụ Quốc tế nhân dân Ban đối ngoại TƯ Đảng; Giáo sư Võ Quý, Đại học Quốc gia HN; Bác sỹ Nguyễn Thị Ngọc Phượng, nguyên Giám đốc Bệnh viện phụ sản Từ Dũ và trung tướng Trần Hanh, Chủ tịch Hội Cựu chiến binh VN.

Mục tiêu chính của nhóm Đối thoại là hỗ trợ các hoạt động nhân đạo và giảm thiểu hậu quả chất độc màu da cam/đi-ô-xin mà quân đội Mỹ đã rải xuống VN thời chiến tranh. Theo dự kiến, trong vòng 2 năm tới nhóm này sẽ hoạt động trên 4 tỉnh có nhiều nạn nhân chất độc màu da cam, gồm: Đồng Nai, Quảng Nam, Đà Nẵng và Thái Bình. Trước tiên sẽ là những hoạt động ở Đồng Nai, tỉnh này có sân bay Biên Hoà - nơi mà quân đội Mỹ sử dụng làm nơi chứa chất độc đi-ô-xin trong suốt khoảng thời gian từ năm 1964 đến 1971.

Những nghiên cứu gần đây cho thấy nồng độ đi-ô-xin trong đất, bùn, một số thực phẩm địa phương và mẫu máu của người dân vẫn cao ở mức báo động. Hiện Đồng Nai có tới trên 13.000 nạn nhân chất độc màu da cam, bị tàn tật hoặc bị các ảnh hưởng sức khoẻ nghiêm trọng, đáng chú ý trong đó có tới gần 3.200 nạn nhân là trẻ em dưới 16 tuổi. Toàn tỉnh này hiện có 3 trung tâm: Trung tâm nuôi dạy trẻ khuyết tật tỉnh Đồng Nai; Trung tâm nuôi dưỡng trẻ mồ côi-khuyết tật và đơn vị phục hồi chức năng. Các trung tâm này sẽ được huy động tham gia chương trình nhưng theo đánh giá cơ sở vật chất và năng lực của cả 3 nơi này còn rất hạn chế

Sống trên vùng đất nhiễm độc nhưng không mấy đề phòng

Thạc sĩ Trần Thị Tuyết Hạnh, Hội Y tế công cộng VN cho rằng, người dân thành phố Biên Hoà, đặc biệt là những người sống gần sân bay hiện đang phải đối mặt với những nguy cơ về sức khoẻ do phơi nhiễm với đi-ô-xin tồn tại trong môi trường, hoặc do tiêu thụ thực phẩm nhiễm chất này. Hội Y tế công cộng VN và hội y tế công cộng tỉnh Đồng Nai đều cho rằng phải can thiệp ngay để giảm đi những nguy cơ mà cộng đồng dân cư ở đây đang phải đối mặt.

Điều đáng buồn là chính người dân ở những khu vực nóng này lại không mấy quan tâm, không nhận thức đúng, đủ về đi-ô-xin. Có 400 người sống tại phường Trung Dũng và phường Tân Phong (Biên Hoà, Đồng Nai) được chọn ngẫu nhiên để hỏi. Chỉ có 7 người biết rằng chất đi-ô-xin có thể tồn tại trong đất, nước, không khí và thực phẩm, ngoài ra chỉ có 3,3% người được hỏi biết chất độc này có thể xâm nhập vào cơ thể con người qua da, qua đường hô hấp và qua ăn uống. Phần lớn người tiêu dùng thực phẩm không quan tâm, hoặc không biết nguồn gốc thực phẩm sử dụng, số người biết được những loại thực phẩm có nguy cơ cao còn rất hạn chế.

Người dân địa phương cho rằng rau, củ quả và thuỷ hải sản là những loại thực phẩm có nguy cơ nhiễm cao mà không mấy quan tâm đến thịt lợn, thịt bò...Chỉ một số ít người dân biết được các biện pháp phòng chống phơi nhiễm độc thông qua thực phẩm như ăn ít mỡ động vật, các sản phẩm bơ sữa. Tóm lại là sự đề phòng của người dân tại hai phường về chống nhiễm độc đi-ô-xin qua thực phẩm còn rất hạn chế, trong khi mức độ ô nhiễm đi-ô-xin trong môi trường, trong thực phẩm và thậm chí trong máu người là rất cao.

ĐOÀN NẠN NHÂN DA CAM/ĐI-Ô-XIN VIỆT NAM ĐẾN NIU OÓC

Sáng 28-9-2008, đoàn nạn nhân chất độc da cam/đi-ô-xin Việt Nam đã đến Niu Oóc, bắt đầu chuyến đi vận động tại một số thành phố lớn ở Mỹ nhằm tuyên truyền về hậu quả của chất độc hóa học mà quân đội Mỹ rải xuống Việt Nam trong thời gian chiến tranh.

Đoàn do bà Đặng Hồng Nhựt, 72 tuổi, nạn nhân chất độc da cam/đi-ô-xin, dẫn đầu. Bà Đặng Hồng Nhựt là người bị nhiễm chất da cam/đi-ô-xin trong thời gian chiến tranh, từng bị sảy thai, sinh con dị tật, và đang phải chống chọi với căn bệnh ung thư.

Ra sân bay đón đoàn nạn nhân chất độc da cam/đi-ô-xin Việt Nam có Đại sứ Bùi Thế Giang, Phó Trưởng đoàn đại diện thường trực Việt Nam tại Liên hợp quốc, đại diện Tổ chức chiến dịch cứu trợ và trách nhiệm với các nạn nhân chất độc da cam/đi-ô-xin Việt Nam (VAORRC) và đại diện nghiệp đoàn những người lái tắc-xi Hoa Kỳ, là tổ chức tình nguyện giúp đoàn về phương tiện đi lại trong thời gian ở Mỹ.

Trả lời phỏng vấn phóng viên Thông tấn xã Việt Nam tại Niu Oóc, bà Đặng Hồng Nhựt, cho biết mục đích chuyến đi này là giải thích cho nhân dân Mỹ về hậu quả của chất da cam/đi-ô-xin đối với con người và môi trường, tác hại của nó không chỉ đối với thế hệ những người từng trải qua chiến tranh, mà cả các thế hệ sau.

Theo bà Merle Ratner, đồng Phối hợp viên Tổ chức chiến dịch cứu trợ và trách nhiệm với các nạn nhân chất độc da cam/đi-ô-xin Việt Nam, đây là đoàn các nạn nhân chất da cam/đi-ô-xin Việt Nam thứ tư sang Mỹ. Bà cho biết thêm có 4 tổ chức quần chúng ở Mỹ hỗ trợ cho chuyến đi này thông qua đóng góp tài chính của những người tình nguyện.

Ngay trong ngày đầu tiên đến Niu Oóc, đoàn nạn nhân chất độc da cam/ đi-ô-xin Việt Nam đã được một số hãng truyền thông yêu cầu phỏng vấn. Chương trình hoạt động của đoàn trong thời gian ở Mỹ hết sức bận rộn, gồm nhiều cuộc gặp gỡ và nói chuyện, đặc biệt với sinh viên và học sinh Mỹ.

Giải quyết hậu quả đioxin trong chiến tranh việt nam

Từ ngày 27-11 đến ngày 1-12 năm 2000, tại Xingapo đã diễn ra cuộc họp của các nhà khoa học từ Mỹ và Việt Nam. Mục đích của cuộc họp này là đặt cơ sở cho sự hợp tác nghiên cứu, đánh giá ảnh hưởng tới sức khỏe con người, môi trường do chất độc mầu da cam và các loại thuốc diệt cỏ mà Mỹ đã rải xuống trong cuộc chiến tranh ở Việt Nam.

Trước đó, vào ngày 18- 8 -2000, cuộc họp trù bị đã diễn ra tại Mỹ. Tại đây các chuyên gia, các nhà khoa học quan tâm tới chất độc màu da cam đã tham dự và đưa ra những vấn đề chính cần được trao đổi trong cuộc họp ở Xingapo.

Tại Xingapo, cả hai đoàn Mỹ và Việt Nam đã đồng ý cùng nhau nghiên cứu đánh giá chính xác mức độ, vùng bị ô nhiễm chất độc mầu da cam, cũng như ảnh hưởng của nó tới sức khỏe, con người và môi trường.

Từ cuối năm l962 đến đầu năm 1971, trong cuộc chiến tranh ở Việt Nam, quân đội Mỹ đã rải 19 triệu galông chất diệt cỏ lên những cánh rừng nhiệt đới ở Việt Nam và Lào, với hy vọng phá hủy các căn cứ của Quân giải phóng miền Nam Việt Nam. Thuốc diệt cỏ được sử dụng nhiều nhất là 2,4-D và 2,4,5-T. Hai loại này được phân biệt riêng dựa vào mầu vàng của vỏ thùng đựng vì vậy được đặt tên là "chất độc mầu da cam".

Những thuốc diệt cỏ này có chứa một lượng nhỏ sản phẩm phụ là chất 2, 3,7, 8 - tetraclođibenzo - p - đioxin (TCDD) và được gọi là đioxin. TCDD là hợp chất hữu cơ bền, có chu kỳ bán phân rã 8,7 năm trong cơ thể con người. Sau 25 năm kết thúc chiến tranh mà đioxin vẫn còn tồn tại trên đất nước Việt Nam. TCDD có hoạt tính sinh học mạnh, làm suy giảm hệ thống miễn dịch động vật, gây nên chứng hở vòm miệng và thiếu hụt đường tiết niệu ở chuột. Nếu chuột bị nhiễm TCDD, hóc môn sẽ bị rối loạn, làm ảnh hưởng tới chức năng của hệ thống nội tiết. TCDD còn gây ung thư (ung thư gan, các loại khối u, hodgkin), các vấn đề trong sinh sản và còn nhiều bệnh khác nữa. Tháng 2 năm 2001, TCDD đã được liệt vào danh sách những chất gây ung thư.

Hai bên đã thông qua 3 vấn đề mấu chốt trong hợp tác nghiên cứu: ảnh hưởng của TCDD tới sức khỏe con người, ảnh hưởng tới môi trường và xây dựng cơ sở nghiên cứu TCDD ở Việt Nam.

Đoàn Việt Nam đã đưa ra 4 vấn đề cần giải quyết trước có liên quan đến sức khỏe con người. Thứ nhất, cần nghiên cứu các bệnh dịch có liên quan đến TCDD. Thứ hai, nghiên cứu hoạt tính sinh học đặc biệt của TCDD ảnh hưởng tới hệ thống miễn dịch, sinh sản và gen. Thứ ba, nghiên cứu tìm ra biện pháp phòng ngừa và tuyên truyền rộng cho nhân dân thông qua giáo dục và cải thiện sức khỏe ở cộng đồng. Thứ tư, Việt Nam rất quan tâm đến vấn đề tìm ra những biện pháp chữa bệnh mới - có thể kết hợp với y học cổ truyền.

Về nghiên cứu, đánh giá và cải thiện môi trường ở những vùng nhiễm chất độc mầu da cam, hai bên đã nhất trí phải tìm ra những điểm nóng. Trong cuộc họp người ta đã thảo luận kỹ về công nghệ xử lý môi trường và sự phối hợp giữa hai bên. Trước mắt, dùng phương pháp phân tích nhanh, chính xác, rẻ tiền để xác định thùng nào bị ô nhiễm nhiều để xử lý trước.

Muốn nghiên cứu ảnh hưởng của TCDD, cũng như cải thiện môi trường thì phải xây dựng các phòng nghiên cứu ở Việt Nam và Lào. Trước mắt, các nhà khoa học Việt Nam sang Mỹ học tập và nghiên cứu, sau đó, mạng Intemet có thể là phương tiện đào tạo từ xa. Phía Mỹ hứa giúp Việt Nam xây dựng phòng thí nghiệm có khả năng xác định đioxin có trong cơ thể người và trong môi trường, thẩm định ảnh hưởng tới sức khỏe, cung cấp cho Việt Nam những phương pháp kiểm tra hiệu quả, đảm bảo và đào tạo cán bộ khoa học về kỹ năng và công nghệ để có khả năng nghiên cứu những vấn đề có liên quan tới TCDD. Để sự hợp tác giữa các nhà khoa học nhanh chóng được thực hiện, hai đoàn phải trình với chính phủ hai nước để ký hiệp định hợp tác khoa học và công nghệ.

Phía Mỹ rất quan tâm tới sự hợp tác giữa hai bên và hứa giúp Việt Nam trong các vấn đề mà họ có nhiều kinh nghiệm như: vệ sinh dịch tễ, theo dõi ảnh hưởng sức khỏe do tác động của đioxin và những hợp chất giống đioxin tới con người và đào tạo cán bộ.